ISO 9001:2008

         

 

Tin tức & Sự kiện

 

Dự báo mặn ĐBSCL

 

Tình hình sạt lở ĐBSCL

 

Dự báo nguồn nước

 

Hợp tác Quốc tế

 

Hoạt động NCKH

 

Hội đồng Khoa học

 

Đào tạo

 

Hoạt động Công đoàn

 

Hoạt động Đoàn TN

 

Thư viện

 

Văn bản Pháp quy

 

Tóm tắt tuyển tập KHCN các năm

 

Diễn đàn thảo luận

 

Tìm kiếm

 

Web links








Tổng cộng

1495313

Hôm nay

699

Online

80


 

VĂN BẢN PHÁP QUY

 

TIN TỨC & SỰ KIỆN

 

Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường: Phấn đấu đưa ĐBSCL thành vùng nông nghiệp giàu có của đất nước [29/09/2017]

 

Sáng 27/9, tại Cần Thơ, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chủ trì phiên toàn thể Hội nghị về phát triển bền vững ĐBSCL, thích ứng với biến đổi khí hậu có quy mô lớn nhất từ trước đến nay để xem xét, đánh giá một cách toàn diện các thách thức, nhận diện được các cơ hội, huy động sáng kiến, kinh nghiệm và nguồn lực để phát triển bền vững ĐBSCL.

Báo cáo kết quả thảo luận về Nông nghiệp bền vững, hạ tầng thủy lợi, phòng chống thiên tai và sạt lở, Bộ trưởng NN&PTNT Nguyễn Xuân Cường cho hay, ĐBSCL không chỉ đảm bảo sinh kế cho 18 triệu dân trong vùng còn góp phần đảm bảo an ninh lương thực quốc gia cho hơn 92 triệu dân, góp phần đưa kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đạt 32 tỷ USD vào năm 2016 với thặng dư 7,5 tỷ USD.

Những bước phát triển vượt bậc

ĐBSCL là cuối nguồn của lưu vực sông Mê Kông dài 4.200 km, 795.000 km2lưu vựctrải dài trên 6 quốc gia đổ ra Biển Đông tạo thành vùng châu thổ trù phú khoảng 4 triệu ha với 18 triệu dân cư của 13 tỉnh, thành phố.Sau 42 năm giải phóng, 30 năm đổi mới, từ một vùng nông nghiệp giản đơn chủ yếu là lúa nổi sản lượng trên4triệutấn thóc, ĐBSCLđã có bước phát triển vượt bậc trở thành vùng nông nghiệp trọng điểm của cả nước- nơi chiếm tới54% sản lượng lúa cả nước; 70% sản lượng thủy sản nuôi trồng; 37% sản lượng trái cây(đạt 1 tỷ USD); 90% sản lượng xuất khẩu gạo; 60% kim ngạch xuất khẩu tôm; 100% kim ngạch xuất khẩu cá tra.

Với kết quả vượt bậc đó ĐBSCL bên cạnh việc đảm bảo sinh kế cho 18 triệu dân trong vùng còn góp phần đắc lựcđảm bảo an ninh lương thực quốc gia cho hơn 92 triệu dân một cách vững chắc. Khu vực này đã góp phần đưa kim ngạch xuất khẩu của Việt Namđạt 32 tỷ USD vào năm 2016 với thặng dư 7,5 tỷ USD.Thế giới biết đến nông sản Việt Nam với vai trò thứ hạng, trong đó có: lúa gạo, tôm, cá tra... là những sản vật vùng này.

Nhiều tác động gây tổn thương lớn

Tuy nhiên, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường cho rằng, hiện nay ĐBSCL đang cùng lúc chịu nhiều tác động lớn:

Thứ nhất, tác động biến đổi khí hậu là một trong những thách thức lớn nhất hiện nay mà loài người đang phải đối mặt. Đồng Bằng sông Cửu Long nói riêng, Việt Nam nói chung được coi là một trong năm quốc gia hứng chịu nặng nề nhất;

Thứ hai, tác động phía thượng nguồn do các hoạt động kinh tế sử dụng nguồn nước như: thủy điện, chuyển nước khỏi lưu vực hệ thống, suy giảm nhanh diện tích rừng, thảm thực bì (nơi giữ nước, điều tiết nước) đã, đang và sẽ diễn ra ngày càng nghiêm trọng làm thay đổi nhanh chóng căn bản quy luật dòng chảy khi vào đến địa phận vùng châu thổ của chúng ta;

Thứ ba, những điểm bất hợp lý trong sự phát triển kinh tế nội tại vùng Đồng bằng như: việc khai thác tài nguyên cát sỏi, nguồn nước ngầm, các hoạt động kinh tế khác cũng gây nên tổn thương lớn đến vùng châu thổ và sự phát triển bền vững.

Ba nhóm nguyên nhân chính đó cùng lúc tác động và với sự nhào trộn, cộng hưởng tạo ra những tác động tiêu cực lớn nhất trong lịch sử kiến tạo vùng đồng bằng châu thổ mà chúng ta phải chấp nhận đối mặt. Những tác động tiêu cực này sẽ tác động trực tiếp đến kinh tế xã hội, đời sống cư dân, tất cả các ngành kinh tế, các khu vực song có lẽ nông nghiệp -nông dân -nông thôn sẽ là những đối tượng chịu tổn thương nhiều nhất.

Thời gian qua, hạn, mặn đã dẫn đến lúa không đủ nước ngọt, thời vụ cũ sẽ có khó khăn do những sự thay đổi bất thường của thời tiết, khí hậu, thể hiện rõ nhất 17.000 ha lúa đông xuân 2016-2017 bị bệnh sâu năn cọng hành ở Kiên Giang, Cần Thơ do ảnh hưởng nền nhiệt thấp và mưa sớm. Hoặc thiệt hại lúa Đông Xuân và Xuân Hè giai đoạn thu hoạch vừa qua do mưa lớn, mưa quá nhiều cuối vụ. Sự thay đổi quy luật đó cũng đã ảnh hưởng trực tiếp đến nuôi trồng thủy sản mặn lợ, do sự thay đổi nhanh chóng độ mặn và môi trường nước. Với cây ăn quả, sự thay đổi mùa mưa, tần suất, cường độ làm ảnh hưởng lớn quy luật sinh trưởng, là nguyên nhân nhiều loại quả, nhiều nhà vườn mất mùa vì không đậu quả.

Đối với đời sống dân cư ven sông, ven biển, sự cộng hưởng tác động đã làm cho tốc độ sạt lở diễn ra nhiều hơn, nhanh hơn gây thiệt hại đến tài sản và đe dọa tính mạng người dân cũng như các thiết chế hạ tầng kinh tế. Hạn mặn xuất hiện nhiều hơn một bộ phận người dân sẽ thiếu nước sinh hoạt trong các tháng mùa khô, điển hình 1 triệu người thiếu nước ngọt đầu năm 2016.

Với tốc độ sạt lở bờ biển như hiện nay đãlàm cho diện tích rừng ngập mặn suy giảm khá nhanh, hiện chỉ còn khoảng 63.000ha, nếu không quyết liệt giữ sẽ dần dần biến mất. Đây là chiếc áo giáp phòng hộ, là hạt nhân hình thành hệ sinh thái bền vững, cái làm nên hồn cốt hệ sinh thái rừng mặn, là môi trường sống của con tôm sú, một đặc sản có giá trị hàng hóa rất lớn, quý của chúng ta.

Tất cả các dạng tác động xấu đó xẩy ra ngày càng phức tạp hơn, gây ra thiệt hại lớn hơn. Nông nghiệp ĐBSCL sẽ không còn trù phú, cải thiện sinh kế và việc làm người nông dân trở nên khó khăn hơn, do vậy có thể nói tác động đến khu vực nông nghiệp – nông dân – nông thôn là lớn nhất, sớm nhất.

Phấn đấu đưa ĐBSCL thành vùng giàu có

Mặc dù nông nghiệp đang đối mặt với những thách thức lớn chưa từng thấy, song khẳng định đây vẫn là vùng có tiềm năng phát triển trở thanh vùng nông nghiệp giàu có của đất nước, của khu vực và của hội nhập thế giới.Bài học Thế giới đã chứng minhđất nước Israel khô cằn, mưa có vùng chỉ 70mm/năm, mặn đến mức biển chết, người ta vẫn xây dựng được nền nông nghiệp hiện đại cho giá trị gia tăng rất cao. Đất nước Hà Lan cũng chỉ 4 triệu ha đất tự nhiên như ĐBSCL của chúng ta, trong đó 2/3 diện tích nằm dưới mực nước biển vẫn có một nền nông nghiệp và công nghiệp chế biến nông sản có giá trị xuất khẩu 120 tỷ USD.

Với ĐBSCL, vấn đề là phải tái cơ cấu lại nền sản xuất nông nghiệp theo hướng hiện đại bền vững trước các biến động đang diễn ra. Tại diễn đàn Hội nghị này, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường đã kiến nghị 4nội dung bức thiết trước mắt:

Thứ nhấtđề nghị Thủ tướng Chính phủ giao cho Bộ NN&PTNT, Bộ Khoa học và Công nghệ cùng các tỉnh kết hợp với các thành phần kinh tế có chương trình cụ thể trong 5 năm 2018 - 2023 giải quyết căn cốt giống tốt cho ba nhóm sản phẩm chính: Thủy sản, cây ăn quả, lúa gạo bằng các giống chủ lực, đáp ứng cho sản xuất đủ sức cạnh tranh. Trong 10 năm tới phải có bộ giống hiện đại đáp ứng cho ba ngành hàng chủ lực này.

Thứ haisửa nhanh Nghị định 210 để thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào khu vực nông nghiệp để trở thành lực lượng liên kết hạt nhân. Tập trung xây dựng các hợp tác xã kiểu mới cùng các trang trại lớn liên kết với doanh nghiệp hình thành sản xuất chuỗi ở các quy mô, cấp độ khác nhau.

Thứ bacó văn bản quy định giữ nguyên 227.000ha rừng của các tỉnh trong vùng, đặc biệt là 63.000ha rừng ngập mặn, không được chuyển đổi dưới bất kỳ hình thức nào trừ nhiệm vụ an ninh, quốc phòng. Bổ sung đề án và tạo nguồn lực phát triển thêm rừng ngập mặn ở những nơi có điều kiện. Có cơ chế khuyến khích đủ sức hấp dẫn các thành phần kinh tế tạođất,rừng mới giữ bờ biển, lấn bờ biển bằng chính sách giao đất thời gian dài 50 - 70  năm với diện tích đất, rừng mới được tạo lập ra, như thời gian giao đất rừng loại gỗ quý lâu năm nhằm tăng nhanh thảm rừng xanh, áo giáp chống đỡ tác động từ biển.

Thứ tư,với 41 điểm sạt lở nghiêm trọng bờ sông, bờ biển hiện nay đã trình Chính phủ cần ưu tiên nguồn lực để xử lý khẩn cấp, không để xảy ra diễn biến nghiêm trọng hơn, khắc phục tốn kém hơn như đoạn Gành Hào (biển Đông) đến cửa sông Cái Lớn – Cái Bé (biển Tây); đoạn lở sông Vàm Nao tỉnh An Giang và một số điểm khẩn cấp khác./. 

 

Hình ảnh tại Hội nghị:  

Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường

   
   
   

Theo nguồn - omard.gov.vn

 

 




CÁC TIN TỨC & SỰ KIỆN ĐÃ ĐĂNG


[22/05/2018] Nhiều chính sách hỗ trợ phát triển thủy lợi nhỏ

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 77/2018/NĐ-CP quy định hỗ trợ phát triển thủy lợi nhỏ, thủy lợi nội đồng và tưới tiên tiến, tiết kiệm nước.

[24/04/2018] Hội thảo khoa học đề tài Khung và Kế hoạch Quản lý hạn cho các tỉnh khu vực Nam Trung bộ

Trong khuôn khổ thực hiện đề tài KHCN cấp Bộ: Nghiên cứu đề xuất khung và kế hoạch quản lý hạn cho các tỉnh khu vực Nam Trung bộ, ngày 24/4/2018 tại Thành phố Phan Rang Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận, Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam đã phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Ninh Thuận tổ chức hội thảo khoa học (lần 1) của đề tài

[19/04/2018] Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam tổ chức gặp mặt chúc mừng các tân Phó Giáo sư năm 2017

Ngày 19/4/2018, Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam đã tổ chức buổi gặp mặt chúc mừng các tân Phó Giáo sư của Viện năm 2017.

[13/04/2018] Hội thảo kết quả nghiên cứu về quản lý và phát triển bền vững lưu vực sông Mê Công, bao gồm cả tác động của các dự án thủy điện dòng chính

Thực hiện nhiệm vụ Lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn giao, ngày 13/4, Tổng cục Thủy lợi phối hợp với Ban thư ký Ủy hội sông Mê Công quốc tế tổ chức Hội thảo trao đổi ý kiến về kết quả nghiên cứu về quản lý và phát triển bền vững lưu vực sông Mê Công

[07/04/2018] Tin nghiệm thu đề tài cấp Bộ

Đề tài khoa học công nghệ cấp Bộ Nghiên cứu đề xuất giải pháp công nghệ chống xói lở bờ biển, cửa sông phù hợp vùng từ Thành phố Hồ Chí Minh đến Kiên Giang do Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam thực hiện, ThS. Lê Thanh Chương làm chủ nhiệm đề tài, đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức nghiệm thu vào ngày 07/4/2018

[06/04/2018] Hội thảo Dự án Đê biển Vũng Tàu - Gò Công trong chiến lược ứng phó với biến đổi khí hậu Đồng bằng sông Cửu Long.

Ngày 6/4/ 2018 tại TP. HCM, Viện Địa chất Nước và Môi trường thuộc Liên hiệp các Hội khoa học và Kỹ thuật VN phối hợp với Công ty CP Nước và Môi trường Hoàng Gia đã tổ chức thành công Hội thảo khoa học “Dự án Đê biển Vũng Tàu - Gò Công trong chiến lược ứng phó với biến đổi khí hậu Đồng bằng sông Cửu Long”.

[29/03/2018] Phòng ngừa, thích nghi tốt sẽ giảm hậu quả do thiên tai gây ra - Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng chủ trì phiên thảo luận.

Trong phiên làm việc buổi chiều ngày 29/3, Hội nghị toàn quốc về phòng chống thiên tai tiếp tục nghe tham luận của các địa phương, các tổ chức quốc tế và các nhà khoa học trong và ngoài nước về kinh nghiệm, giải pháp phòng ngừa, ứng phó hiệu quả với thiên tai.

[29/03/2018] Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc: Phòng chống thiên tai phải là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị

Ngày 29/3/2018, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã chủ trì Hội nghị toàn quốc về công tác phòng chống thiên (PCTT) tại Hà Nội. Tham dự Hội nghị còn có Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng và Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) , Trưởng Ban chỉ đạo Trung ương về PCTT Nguyễn Xuân Cường; lãnh đạo các Bộ ngành, các cơ quan Báo chí,

[28/03/2018] Thông báo Viết bài báo khoa học nhân dịp kỷ niệm 40 năm thành lập Viện

Căn cứ chỉ đạo của Ban Giám đốc, Hội đồng Khoa học và Ban chỉ đạo kỷ niệm 40 năm ngày thành lập Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam (19/8/1978-19/8/2018), trong khuôn khổ các hoạt động khoa học công nghệ chào mừng Kỷ niệm 40 năm, Viện Khoa học Thuỷ lợi miền Nam dự kiến phối hợp với Tạp chí Khoa học công nghệ Thủy lợi

[21/03/2018] Lễ trao bằng Tiến sỹ năm 2018 tại Viện Khoa học thủy lợi miền Nam

Ngày 21/3/2018 tại Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam, Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam đã tổ chức Lễ trao bằng Tiến sĩ kỹ thuật năm 2018 cho NCS. Bạch Vũ Hoàng Lan, theo Quyết định công nhận học vị Tiến sĩ số 951/QĐ-VKHTLVN ngày 05/12/2018 và NCS Lê Văn Tuấn, theo Quyết định công nhận học vị Tiến sĩ số 952/QĐ-VKHTLVN ngày 05/12/2018 của Giám đốc Viện


1-10/261 tin, tổng cộng 27 trang

 

 

 Lên đầu trang     In trang này

Cơ quan chủ quản: Viện Khoa học Thuỷ lợi Việt Nam
Giấy phép số: 166/GP-BC ngày 02/5/2007 của Cục Báo chí- Bộ VHTT
Chịu trách nhiệm chính: PGS.TS. Đỗ Tiến Lanh - Phó Viện trưởng Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam

Web Design by thietkeviet.com - © Copyright 2005-2018 by SIWRR®. All rights reserved.